Theo chủng loại
Mô hình tàu thuyền cao cấp
Theo tỷ lệ
Thống kê truy cập
00568031
Số khách hôm nay 115
Số khách tổng cộng 134416
Lượt xem hôm nay 321
Lượt xem tổng cộng 568031
Đang trực tuyến 7

Xe tăng Abrams M1A2 Sep Tusk 2 (1/35)

Lượt xem: 2754 Tỷ lệ: 1/35
Mã sản phẩm:
Tình trạng: Còn hàng
0  đã mua
2.800.000 đ Trước Thuế: 2.800.000 đ
Số lượng: Mua hàng

Xe tăng Abrams M1A2 Sep Tusk 2 (1/35)

Tính chất: Mô hình tĩnh
Kích thước mô hình: Dài 42 x Rộng 17 x Cao 15 cm
Tỉ lệ so với kích thước thật: 1/35
Chất liệu: Nhựa, được chế tác hoàn toàn thủ công từ nghệ nhân. Mô hình được mô phỏng với độ tinh xảo cao, sản phẩm được sơn theo màu xanh quân đội rất bền và đẹp theo thời gian.

Bối cảnh lịch sử: Hiện đại
Sở hữu: Hoa Kỳ

Lưu ý: mô hình không bao gồm lính

Xe tăng Abrams: quả đấm thép trên chiến trường

Lịch sử phát triển

 

M1A2 với gói nâng cấp khả năng tồn tại trong môi trường đô thị (TUSK)

Chiến đấu trong môi trường đô thị luôn là nguy hiểm nhất đối với xe tăng do kẻ thù có thể đến từ bất kì hướng nào với bất kỳ loại vũ khí gì. Cuộc chiến với I-rắc năm 2003 đã hé lộ các điểm dễ bị tổn thương của xe tăng M1 Abrams. Chủ yếu các loại mìn và súng chống tăng cá nhân, bom tự tạo rẻ tiền và chiến thuật du kích của quân nổi dậy đã phá hủy các phương tiện này. Trên cơ sở đó, gói Nâng cấp khả năng tồn tại trong môi trường đô thị (tank urban survival kit/TUSK) cho M1 Abrams đã được ra đời. 

TUSK bao gồm: giáp phản ứng nổ ERA cho tăng Abram (ARAT) 2 bên sườn xe, giáp lồng phía sau xe chống đạn nổ lõm, thiết bị ngắm bắn từ xa cho súng máy 12,7 mm của trưởng xe (Commander's Weapon Station - CWS) , tấm chắn đạn cho súng máy 7,62mm của pháo thủ 2, súng máy 12,7 mm đồng trúc với pháo chính, điện thoại liên lạc giữa tăng và bộ binh, mũ ngắm bắn hồng ngoại cho súng máy 7,62 mm M240 cho người pháo thủ số 2. 

Gói nâng cấp này đảm bảo cho M1 Abrams phát huy khả năng tự vệ,  tấn công hỏa lực, đánh giá tình hình khi chiếu đấu trong môi trường đô thị.

M1 Abrams là loại xe tăng chủ lực do hãng General Dynamics của Hoa Kỳ sản xuất năm 1980, theo thiết kế của Chrysler Defense. Tên hiệu xe được đặt theo tên của Creigton Williams Abrams JrChủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân Hoa Kỳ kể từ tháng 12 năm 1972 đến trước khi ông qua đời vào năm 1974. Hiện tại, đây là loại xe tăng chiến đấu chủ lực thông dụng nhất trong quân đội Hoa Kỳ.

Trên cơ sở M1, đã sản xuất xe bắc cầu hạng nặng HAB, xe tăng phá mìn TMMCR, xe sửa chữa, cứu kéo ARV-90.

Các xe M1A1 đã được sử dụng trong chiến tranh vùng Vịnh năm 1991 và đang được xuất khẩu sang nhiều nước khác.

Vũ khí chống bộ binh và phòng không của tăng M1A1 bao gồm súng máy song song cỡ nòng 7,62 mm, một súng máy 7,62 mm khác được đặt trước nắp tháp pháo của pháo thủ số 2, đồng thời bố trí thêm một súng máy phòng không cỡ nòng 12,7 mm, đặt trên nắp tháp pháo của trưởng xe. Trên tháp pháo được bố trí 12 ống phóng lựu đạn khói, mỗi bên tháp pháo 6 ống.

Đặc điểm nổi bật nhất của dòng xe M1 Abrams là hệ thống điều khiển hỏa lực rất hiện đại. Hệ thống điều khiển hỏa lực cho phép tiêu diệt mục tiêu ở khoảng cách 1850 m bằng một viên đạn khi xe đang cơ động hành tiến với tốc độ 40 km/h. Kính ngắm tổ hợp quang – điện tử  (Electro-Optical Systems Division) do công ty Hughes Aircraft sản xuất  của pháo thủ số 1 có hai chế độ bắn ngày – đêm, lắp đặt thiết bị đo xa laser và hệ thống ổn định tầm – hướng trên trục trường nhìn.

Đồng thời, hệ thống kính ngắm được lắp đặt một thiết bị truyền quang ảnh trực tiếp telescopic. Trưởng xe có thể quan sát hình ảnh chiến trường trên kính ngắm của pháo thủ số 1, từ đó có thể khai hỏa đồng thời như pháo thủ số 1. M1 Abrams có thể phát hiện mục tiêu ở khoảng cách 3000 m ban đêm và 1200 m – trong điều kiện sương mù.

Trên vị trí chiến đấu của trưởng xe có kính ngắm tiềm vọng cho súng phòng không 12, 7mm và 6 thiết bị kính tiềm vọng quan sát xung quanh bố trí đối xứng nhau với trường nhìn tổng cộng 360o. Máy tính đường đạn kỹ thuật số cho phép tính toán quỹ đạo đường đạn rất chính xác, các thông số mục tiêu, bao gồm khoảng cách, vận tốc mục tiêu, hướng gió, độ ẩm không khí, nhiệt độ môi trường, áp suất khí quyển, loại đạn chuẩn bị bắn, nhiệt độ của đạn và tình trạng dung sai hao mòn nòng súng v.v..từ thiết bị đo xa laser và các thiết bị cảm biến khác cho phép tính toán phần tử bắn tối ưu nhất. Các thông số đưa vào máy tính hoàn toàn tự động, cung cấp cho pháo thủ hệ số sai lệch đường đạn, xác định điểm ngắm và điểm chạm của đạn đến mục tiêu.

M1 Abrams – là xe tăng đầu tiên trên thế giới sử dụng động cơ tua bin khí đa nhiên liệu. động cơ AGT-1500 cho công suất đến 1500 sức ngựa trong chế độ vòng quay trục khuỷu là 3000 vòng/phút của công ty Avco Lycoming. Nhiên liệu sử dụng cho động cơ là dầu hỏa, dầu diesel và xăng. Số giờ máy sử dụng đến sửa chữa lớn là – 1800 giờ, tương đương với 19000 km hoạt động.

Hệ thống chuyền động lực M1 Abrams là hệ thống thủy lực, được lắp đặt đồng bộ cùng với động cơ, bao gồm bộ li hợp dầu, hộp số thủy lực 4 số tiến và 2 số lùi.

Xe tăng có hiệu suất riêng rất cao - 28 sức ngựa/tấn, cho phép xe có khả năng cơ động nhanh dù tổng khối lượng khá nặng. Tốc độ cơ động nhanh: trên đường nhựa là - 72 km/h , trên đường đất là - 55 km/h. Xe có thể kéo tốc độ lên đến 30km/h trong vòng 6,2s. Xe có thể vượt dốc 30o, vượt tường cao 1,2m, hào rộng đến 2,77m và vượt ngầm có độ sâu 1,2 m.

Trên xe tăng lắp đặt hệ thống chống vũ khí hủy diệt lớn, hệ thống sẽ lọc độc không khí và kết nối với mặt nạ phòng độc của kíp xe. Đồng thời hệ thống lọc độc sẽ tạo ra áp suất trong khoang chiến đấu để cách ly với không khí bên ngoài. Trên xe tăng M1 Abrams được lắp đặt các thiết bị cảm biến phát hiện vũ khí hóa học, sinh học và phóng xạ, thiết bị phòng cháy thân xe.

Khi phát triển xe tăng M1 Abrams, mối quan tâm đầu tiền là xe phải có giá thành hạ và dễ dàng, thuận lợi trong bảo dưỡng, sửa chữa nhỏ trên chiến trường. Ví dụ, đối với xe tăng M1, thay thế động cơ mất 30 phút, trong đó, để thay thế động cơ M60 cần đến 4 giờ.

Với ưu tiên thiết kế hàng đầu là bảo vệ kíp xe, M1 Abram là một trong những loại xe tăng an toàn nhất thế giới ngay cả khi giáp xe bị xuyên thủng bởi đạn chống tăng.

Giáp phản ứng nổ ERA được lắp đặt trên tháp pháo của xe tăng M1 Abrams.

Như hầu hết các loại xe tăng được thiết kế vào thời kỳ Chiến tranh lạnh, giáp xe tăng M1 Abram được tập trung dày nhất ở góc nghiêng 60o mũi xe. Giáp của M1 Abram là giáp Burlington theo tên gọi của Mỹ hay được gọi là  Chobham theo tên gọi của Anh. Giáp Chobham có khả năng chống đạn cao hơn nhiều lần so với thép thường. Đến những năm 1980, giáp xe tăng Abram được tăng cường thêm uranium nghèo (DU) ở giữa hai lớp giáp của tháp pháo giúp tăng thêm khả năng chống đạn xuyên giáp dưới cỡ bằng động năng.

Cũng như nhiều xe tăng phương Tây khác, giáp chính ở phía trước xe tăng Abram là 100% giáp thép hợp kim, không lệ thuộc vào ERA. Xe M1 Abrams có trọng lượng lớn, nhưng bù lại giáp có độ bền cao hơn nhiều. Mặc dù vậy, trong chiến tranh vùng Vịnh, không thiếu những trường hợp xe tăng Mỹ bị bắn thủng bởi đạn chống tăng  RPG-7.

Bố trí vị trí thành viên trong xe tăng Abrahams

Vị trí các thành viên kíp xe

Trong tương lai, M1 sẽ được bảo vệ thêm bởi hệ thống phòng thủ tích cực Quick-Kill (tương tự như hệ thống Arena của xe tăng Liên bang Nga, có khả năng đánh chặn hầu hết các loại đạn chống tăng từ mọi hướng xung quanh xe. Hệ thống Quick-Kill được đưa vào trang bị thử nghiệm trong năm 2009 cho lực lượng thiết giáp Mỹ.

Trong thời gian chờ loại APS “hard kill” này, quân đội Mĩ đã trang bị các thiết bị hình hộp AN VLQ-8A “soft kill” có khả năng gây nhiễu các loại tên lửa chống tăng sử dụng đầu đạn tự dẫn hồng ngoại và dẫn đường radars. Ngoài ra, trong tương lai gần, xe tăng M1 Abrams sẽ được trang bị các thiết bị phòng vệ.

Thiết bị phản ứng chống tên lửa (MCD) AN VLQ-8A :Thiết bị phản ứng chống tên lửa đầu tự dẫn hồng ngoại AN VLQ-8A của hãng Sander (thuộc công ty Lockheed Martin). Thiết bị khi phát hiện tên lửa tấn công sẽ phóng đạn gây nhiễu hồng ngoại, khiến tên lửa đầu dẫn hồng ngoại bị lạc hướng và tự hủy.  Hơn 1.000 hệ thống đã được giao cho quân đội Mỹ nhưng chưa có thống kê về hiệu quả sử dụng của thiết. Hiện vẫn chưa có thông tin về việc xuất khẩu hệ thống này.

Xe tăng M1 Abrams đã được sử dụng trong nhiều cuộc chiến tranh cục bộ của Mỹ như Chiến tranh vùng Vịnh (Chiến dịch Bão táp Sa mạc); Chiến tranh Afghanistan (Chiến dịch Tự do Bền vững); Iraq War (Chiến dịch Iraq Tự do).

Trong các cuộc chiến tranh nói trên, đặc biệt là với các chiến xa của Iraq, xe tăng M1A1 đã thể hiện sự vượt trội của mình không phải là những thông số kỹ thuật, mà là khả năng tác chiến với một lực lượng tăng thiết giáp đông hơn về số lượng, nhưng lại hoàn toàn không có khả năng tác chiến. Các kíp lái xe của Iraq hoàn toàn lúng túng trước một trận đấu xe tăng nghiêm túc mà ý trí và tinh thần chiến đấu, năng lực tác chiến, khả năng cơ động và đặc biệt quan trọng, đó là cơ cấu tổ chức, chỉ huy, hiệp đồng tác chiến.

Với một lực lượng xe tăng khổng lồ (hàng nghìn xe) trên thực tế quân đội Iraq hoàn toàn không có một hệ thống chỉ huy thống nhất, không có khả năng tổ chức được lực lượng không quân, pháo binh chi viện hỏa lực và bảo vệ bầu trời. Có thể nói, cuộc đấu tăng giữa M1 Abrams và lực lượng xe tăng Iraq trên thực tế chỉ là cuộc diễn tập bắn đạn thật của binh chủng xe tăng Mỹ.

Trận chiến lần thứ 2 đã phát hiện những điểm yếu chết người của M1A1, xe tăng Mỹ hoàn toàn không có khả năng chống lại các cuộc tấn công của súng phóng lựu RPG trong các cuộc chiến tầm gần, mìn chống tăng gầm xe và mìn chống tăng hiệu ứng xuyên phá. Những loại vũ khí giá rẻ này đã hạ không dưới 20 xe tăng Mỹ trên chiến trường Iraq.

Tính năng kỹ chiến thuật chung của xe tăng M1Abrams

Khối lượng: 60,4 tấn

Chiều dài : Súng hướng phía trước: 32,04 ft (9,77 m); Chiều dài thân: 26,02 ft (7,93 m)

Chiều rộng: 12 ft (3,66 m)

Chiều cao: 8 ft (2,44 m)

Kíp chiến đấu: 4 (trưởng xe, pháo thủ số 1, pháo thủ số 2, lái xe)

Bọc giáp: Chobham, giáp RH, giáp thép bọc uranium nghèo

Pháo tăng:   Pháo nòng rãnh xoắn: 105 mm M68 (M1); Pháo nòng trơn: 120 mm M256 (M1A1, M1A2, M1A2SEP))

Súng tự động: 1 súng máy phòng không hạng nặng cỡ .50 (12.7 mm) - M2HB; 2 súng máy  x 7.62 mm (.308) M240 (1 dành cho pháo thủ số 2, 1 song song nòng pháo)

Động cơ: Động cơ turbine khí đa nhiên liệu Honeywell AGT1500C, 1,500 shp (1,120 kW)

Công suất/trọng lượng: 24.5 hp/mét tấn

Hệ truyền động: Allison DDA X-1100-3B

Hệ thống giảm xóc treo: Thanh xoắn

Trên cơ sở các thông số tính năng kỹ chiến thuật của xe tăng Abrams, có thể thấy các thông số xe cơ bản tương đương với xe tăng T-72 của Liên bang Xô viết, điểm vượt trội của xe tăng A1 Abrams là các hệ thống điện tử thân xe được liên tục cải tiến và nâng cấp. Trong điều kiện chiến tranh hiện đại, xe tăng M1A1 Abrams sẽ được tăng cường giáp phản ứng nổ, hệ thống phòng thủ chống tên lửa có đầu đạn tự dẫn hồng ngoại và radars.

Trong tương lai, do hệ thống nghiên cứu chế tạo xe tăng của Mỹ đã lâu không đưa ra một mẫu xe tiên tiến nào, quân đội Mỹ và đồng minh vẫn tiếp tục sử dụng A1 Abrams như một phương tiện đột phá hạng nặng trên mọi chiến trường.

Mô hình xe tăng M1A2 Sep Tusk 2 thích hợp dùng làm vật phẩm trưng bày, sưu tập, làm quà biếu quà tặng cho người thân và bạn bè, ngoài ra sản phẩm mô hình còn được dùng làm quà biếu lãnh đạo, thủ trưởng, cấp trên cũng rất ý nghĩa.

Quý khách cần hỗ trợ thêm thông tin về sản phẩm mô hình quân sự có thể liên hệ trực tiếp với chúng tôi để được tư vấn các vấn đề liên quan đến sản phẩm được tốt nhất:

Điện thoại: 0909 507 017 - 0984 00 27 00

Không có đánh giá cho sản phẩm này.

Viết đánh giá

Tên bạn:


Đánh giá của bạn: Lưu ý: không hỗ trợ HTML!

Bình chọn: Xấu           Tốt

Nhập mã kiểm tra vào ô bên dưới:



Facebook Comments ()